Nâng mông dưới cơ – Phương pháp phẫu thuật, Biến chứng

Tác giả:

Nâng mông dưới cơ - Phương pháp phẫu thuật, Biến chứng
Nâng mông dưới cơ - Phương pháp phẫu thuật, Biến chứng

Bài viết Nâng mông dưới cơ – Phương pháp phẫu thuật, Biến chứng được dịch bởi Ths, Bs Nguyễn Đình Trung từ sách PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ VÙNG MÔNG của Jorge E. Hidalgo, MD*.

1. TỪ KHÓA

  •  implant dưới cơ Nâng mông bằng túi độn • Implant mông • Tạo dáng cơ thể

2. ĐIỂM QUAN TRỌNG

  •  Ở những bệnh nhân có đủ các tiêu chí cho cuộc phẫu thuật, phương pháp nâng mông dưới cơ đem lại độ bao phủ mô mềm nhiều hơn cảvà hình dáng mông sau phẫu thuật cũng tự nhiên hơn, đường nét tiếp nối giữa vùng thắt lưng cùng và mông cũng uyển chuyển hơn.
  • Để tránh làm đầy phần mông trên quá mức và để xác định mặt phẳng cấy ghép, cần đánh dấu vùng phẫu thuật trước mổ.
  • Ngày nay làm đầy bằng implant và chuyển mỡ ít được thực hiện hơn vì sự gia tăng đáng báo động của việc sử dụng filler tổng hợp, hóa chất tuy rẻ nhưng rất nguy hại cho cơ thể.
  • Tác giả mô tả một cách tiếp cận đơn giản mà ông đã phát triển để xác định xem bệnh nhân có thỏa mãn các điều kiện để thực hiện nâng mông dưới cơ hay không.

Làm đầy và tạo hình vùng mông đã dần trở nên phổ biến trong vài năm gần đây do nhu cầu ngày một tăng của xã hội. Là bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ, chúng ta thường sử dụng hai phương pháp cơ bản để giải quyết vấn đề này: implant mông hoặc cấy ghép mỡ. Cả hai phương pháp này đều có những phân nhóm riêng: implant ở mặt phẳng khác nhau (dưới cơ, trong cơ, hoặc dưới cân), và ghép mỡ (dưới da hoặc trong cơ). Cả hai kỹ thuật này cũng đều có những biến chứng liên quan. Ví dụ những biến chứng thường gặp nhưng ít nguy hiểm: bục chỉ vết mổ sau im- plant hoặc hấp thu mỡ sau ghép mỡ. Những biến chứng khác tuy ít gặp nhưng nguy hiểm hơn: nhiễm khuẩn và khối máu tụ sau implant và thuyên tắc ở sau ghép mỡ tự thân.

3. ƯU ĐIỂM VÙNG DƯỚI LỚP CƠ

Đặt mô cấy trong mặt phẳng dưới cơ giúp mô mềm có thể bao phủ toàn bộ chúng, ít khi sờ thấy mô cấy, và đường nét tiếp nối giữa vùng thắt lưng cùng và mông cũng uyển chuyển hơn nhiều.

Việc hạn chế khả năng khai phá ở vùng mông dưới do những lo ngại về tổn thương thần kinh hông to phía dưới bờ dưới cơ tháp sẽ không làm ảnh hưởng tới tính thẩm mỹ vùng mông nếu như bệnh nhân được chọn lựa một cách phù hợp, sẽ mô tả phía dưới bài viết.

Mặt phẳng trong cơ được mô tả bởi Vergara và Amezcua, Gonza- lez là mặt phẳng được lựa chọn thứ hai sau mặt phẳng dưới cơ ở những bệnh nhân có khung chậu ngắn và phải đặt mô cấy ở vùng mông dưới, bên dưới cơ tháp. Mặt phẳng trong cơ này được Gonzalez mô tả là ‘mặt phẳng sandwich’ chia cơ mông lớn thành hai phần theo độ dày một cách tỉ mỉ theo phương pháp XYZ của ông. Như ông đã đề cập trong bài báo này, việc bóc tách các lớp cơ là rất khó, nên buộc phải đánh giá được độ dày lớp cơ trước phẫu thuật và cũng nên biết rằng các mốc giải phẫu sẽ khá khó tìm và tưởng tượng tại mặt phẳng này.

Bất chấp những hạn chế này, kết quả xuất sắc của ông đã nói lên tất cả.

3.1.Giải phẫu

Giải phẫu cơ mông được mô tả trong bài báo của Robert F. Cen- teno và các đồng nghiệp “Giải phẫu lâm sàng trong tạo hinh thẩm mỹ vùng mông”, vấn đề này cũng đã được Mendieta và Gonzalez đánh giá trước đó.

Ngoài ra trong đĩa CD đi kèm với bài báo này, có một video về giải phẫu vùng mông của Bác sĩ Ba- rouidi trên tử thi.

Lựa chọn bệnh nhân và đánh dấu vùng phẫu thuật

Tác giả vẫn sử dụng giới hạn dưới của mặt phẳng cắt là 2 đường ngang được vẽ từ đốt xương cụt cuối cùng tới hai mấu chuyển lớn.

Để tránh tình trạng quá ngắn hoặc quá dài của vùng mông (hay còn gọi là mông dài/ngắn) thì tác giả đã kết hợp một phép đo đơn giản trước phẫu thuật, đo khoảng cách từ mào chậu phía sau tới đường ngang đi qua trung điểm nếp liên mông (khoảng cách A) và từ đường ngangđó tới nếp lằn mông (khoảng cách B) (Hình 1) để tính vị trí chuẩn xác của khối im- plant.

Hình. 1. Đánh giá trước phẫu thuật để lựa chọn bệnh nhân với mặt phẳng im- plant phù hợp.
Hình. 1. Đánh giá trước phẫu thuật để lựa chọn bệnh nhân với mặt phẳng im- plant phù hợp.

Để   tránh   tình   trạng   phần mông trên được nâng lên quá mức, khoảng cách A thông thường phải gấp đôi khoảng B để có thể phù hợp cho nâng mông dưới cơ.

Nếu khoảng cách A ngắn hơn, nên sử dụng mặt phẳng trong cơ để tạo điều kiện cho khối im- plant được đẩy xuống thấp hơn 1 chút, giúp đạt được kết quả thẩm mỹ lý tưởng.

Những bệnh nhân có mào chậu rộng, khung chậu hẹp và ngắn hoặc sa hay thiếu mô mềm ở mông sẽ không phù hợp với các thủ thuật nâng mông, bất kể áp dụng ở mặt phẳng nào. Các tác giả khuyến cáo họ nên chuyển sang phương pháp ghép mỡ (Hình 2).

 Hình. 2. Bệnh nhân với khung chậu quá rộng hoặc quá ngắn đều không phù hợp với implant mông.

Hình. 2. Bệnh nhân với khung chậu quá rộng hoặc quá ngắn đều không phù hợp với implant mông.

3.2.Phương pháp phẫu thuật

Phương    pháp    phẫu    thuật này được mô tả lần đầu bởi Tiến sĩ Jose Robles và các đồng nghiệp đến từ Argentina vào năm 1984. Tác giả bắt đầu phát triển kĩ thuật này vào nằm 1988, và đã được trình bày tại cuộc họp thường niên về thẩm mỹ năm 1992 của Hiệp hội phẫu thuật thẩm mỹ khu vực Bắc Mỹ ở Washington DC, quá trình báo cáo đã được quay lại và giữ dưới dạng video thuộc bản quyền của tổ chức giáo dục phẫu thuật thẩm mỹ thuộc hiệp hội Bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ Hoa Kỳ năm 1993 và được xuất bản trên tạp chí clinics in plastic surge- ru nằm 2006.

Theo đề xuất của Mendieta, việc định hình nên được ưu tiên trước các thủ thuật làm tăng kích thước vùng mông. Ngoài việc hút mỡ vùng eo và hông, tác giảhiện đang thực hiện đồng thời việc chuyển mỡ sang các vùng mông thiếu tổ chức mỡ dưới da để có được hình dạng quả lê (hình dạng lý tưởng vùng mông).

Bởi vì mặt phẳng dưới cơ, theo mô tả của Robles và cộng sự, thường không được xác định một cách rõ ràng, nên trong một số trường hợp, tác giả phải đặt túi độn ở mặt phẳng cơ cách mặt ngoài cơ mông lớn ít nhất 3-4 cm, đây được coi là mặt phẳng sâu trong cơ.

Tác giả không để lại một lượng da nhất định ở cạnh nếp liên mông như khuyến nghị của Gonza- lez. Anh ta dùng một đường rạch ở giữa, nếp lằn mông được tái tạo lại bằng cách gặm đi một phần lớp cân ở trước xương cùng, mô dưới da và bờ da khi đóng vết thương.

3.3.Lựa chọn loại implant

Tác giả luôn sử dụng loại silicone dạng gel dính, trung bình (moderate profile) với lớp vỏ dày và chịu lực tốt do tiến sĩ Robles và các đồng nghiệp phát triển lên (dưới cái tên Silimed).

Các mô cấy high-profile khi sử dụng thường dẫn tới đường viền nhọn không tự nhiên, thậm chí nhiều hơn khi bệnh nhân cúi về phía trước hoặc nâng đùi lên.

Tác giả ban đầu sử dụng mô cấy với thể tích 240, 270 và 300 cm3, nhưng ngày nay họ thường dùng loại thể tích 300-350 cm3.

Đối với Hoa Kỳ, khi các nhà máy sản xuất túi silicone bị cấm hoạt động bởi FDA thì họ chuyển sang dùng loại silicone đàn hồi dạng tròn (Silimed-Sientra) Với thể tích từ 250, 290 tới 340 cm3.

Một số cống ty khác sản xuất mô cấy dạng elastomer, bao gồm Hanson Medical Inc, AART Inc, và Spectrum Designs Medical.

Những bệnh nhân có khung chậu hẹp hoặc muốn đặt túi độn trong cơ ở vị trí thấp thì nên chọn loại anatomic implant (hình giọt nước).

3.4.Kết quả

Kết quả phẫu thuật quan sát trên Hình. 3-5.

Hình. 3. (A-H) Tiền phẫu, chu phẫu và sau hậu phẫu 6 tháng của một bệnh nhân nữ 38 tuổi được ghép túi độn mông với thể tích 330 cm3.
Hình. 3. (A-H) Tiền phẫu, chu phẫu và sau hậu phẫu 6 tháng của một bệnh nhân nữ 38 tuổi được ghép túi độn mông với thể tích 330 cm3.
Hình. 4. (A-I) Hình ảnh tiền phẫu, chu phẫu và sau hậu phẫu 11 tháng của một phụ nữ 25 tuổi đã được thực hiện hút mỡ vùng éo, hông và sau xương vùng, đồng thời ghép khối cấy thể tích 270cm3.
Hình. 4. (A-I) Hình ảnh tiền phẫu, chu phẫu và sau hậu phẫu 11 tháng của một phụ nữ 25 tuổi đã được thực hiện hút mỡ vùng éo, hông và sau xương vùng, đồng thời ghép khối cấy thể tích 270cm3.
Hình. 5. (A-F) Hình ảnh tiền phẫu và sau hậu phẫu 4 tháng của bệnh nhân 67 tuổi, ghép khối implant thể tích 300 cm3.
Hình. 5. (A-F) Hình ảnh tiền phẫu và sau hậu phẫu 4 tháng của bệnh nhân 67 tuổi, ghép khối implant thể tích 300 cm3.

3.5.Biến chứng

Theo kinh nghiệm của tác giả, nhiễm trùng lớp bề mặt và hoặc bục chỉ vết mổ là hai biến chứng thường gặp nhất (Hình 6). Nếu bục chỉ ở các lớp bề mặt thì có thể chăm sóc tại chỗ, làm sạch vết mổ và chờ liền. Còn trong trường hợp nặng, có thể thấy các tổ chức sâu phía bên dưới thì cần chăm sóc đặc biệt, thay băng và làm sạch vết mổ thường xuyên cho tới khi thấy được mô hạt sạch trên vết mổ. Sau đó nên đóng vết mổ theo hai kỳ, kỳ đầu là lớp sâu, kỳ sau là lớp nông và cách nhau một tuần.

Hình. 6. Bục chỉ vết mổ
Hình. 6. Bục chỉ vết mổ

Kể từ lần xuất bản cuối cùng vào năm 2006, tác giả đã không ghi nhận bất kỳ trường hợp gặp phải biến chứng khối máu tụ hoặc nhiễm khuẩn dưới cơ nào.
Theo kinh nghiệm từ trước tới giờ, tác giả đã có lần phải điều trị tình trạng thoát vị khối implant ở mông trái của một bệnh nhân nữ (Hình 7). Trong phẫu thuật, ông tìm thấy một khối silicone thể tích 220cm3 chứa đầy nước muối sinh lý, sau đó ông thay bằng túi gel sil- icone với thể tích 270 cm3. Phần cấy ghép mông bên trái đó bị thoát vị qua một lớp cơ rất mỏng. Và như thế hình thành 1 túi ở phía dưới khối implant ban đầu. Khi phẫu tích đã đặt lại túi độn và cố định chắc chắn. Khối implant bằng cách lợi dụng tương quan giữa các bó cơ xung quanh khối đó đồng thời chuyển vạt cố định các vỏ bao (Hình. 7).

Hình. 7. (A-D) Hình ảnh tiền phẫu và hậu phẫu của bệnh nhân thoát vị khối implant ở mông trái.
Hình. 7. (A-D) Hình ảnh tiền phẫu và hậu phẫu của bệnh nhân thoát vị khối implant ở mông trái.

4. TỔNG KẾT

Mặc dù có sẵn các lựa chọn khác nhau về mặt phẳng cấy ghép mông, tác giả cho rằng, ở những bệnh nhân phù hợp với các tiêu chí kể trên, kỹ thuật ghép dưới cơ vẫn nhiều ưu điểm hơn cả. Với việc sử dụng các khối elastomer hoặc gel silicone tròn, trung bình (moder- ate-profile), việc nâng mông dưới cơ có thể đem lại kết quả tốt, tạo hình tự nhiên và mềm mại. Ngày nay, chúng ta đang thực hiện ít hơn những ca implant và chuyển mỡ hơn vì sự gia tăng đáng báo động của filler bằng các hóa chất tổng hợp, mặc dù rẻ nhưng rất nguy hiểm cho cơ thể. Những vật liệu này, hiện đang được sử dụng để tiêm trong cơ nhằm nâng mông, nhưng chúng ta biết rằng một số hoạt chất đó đã bị cấm. Và hậu quả sẽ chỉ quan sát thấy sau vài năm, khi chúng đã trở nên quá rõ ràng.
Chúng tôi có thể sẽ phải đối mặt với chuyện đó trong tương lai và với tư cách là các Bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ, sớm muộn cũng sẽ phải giải quyết những biến chứng nặng nề này.

5. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Vergara R, Amezcua H. Intramus- cular gluteal implants. Aesthetic Plast Surg 2003;23:86–91.
2. Gonzalez R. Buttocks reshaping and the posterior body contour: the XYZ intramuscular method. Rio de Janeiro (Brazil): Indexa Ed; 2006. p. 109–43.
3. Gonzalez R. Gluteal implants: the XYZ intramuscular method. Aes- thet Surg J 2010;30(2):256–64.
4. Mendieta C. Gluteoplasty. Aes- thet Surg J 2003;23:441–55.
5. Gonzalez R. Buttocks reshaping and the posterior body contour: anatomy. Rio de Janeiro (Brazil): Indexa E.d; 2006. p. 77–91.
6. Baroudi R. Buttocks augmenta- tios. [Video # 61224] Lipoplasty Society of North America. 1991.
7. Hidalgo J. Submuscular gluteal augmentation: 17 years experi- ence with gel and elastomer sil- icone implants. Clin Plast Surg 2006;33:435–47.
8. Robles J, Tagliaprieta J, Grandi M. Gluteoplastia de aumento; im- plantes submusculares. Clin Plastic Surg 2006;33:435–47.
9. Hidalgo J. Submuscular augmen- tation gluteoplasty. Presented at the 10th annual Meeting of the Li- poplasty Society of North America. Washington, DC, October 1992.
10. Hidalgo J. Submuscular aug- mentation gluteoplasty [Video # 9513] Plastic Surgery Educational Foundation. Aesthetic Body Con- touring Series. 1993.

Tham khảo thêm một số bài viết cùng chủ đề

BÌNH LUẬN